Skip Ribbon Commands
Skip to main content
Văn hóa - Xã hộiThứ 3, Ngày 04/06/2019, 14:40

ĐẠI ĐOÀN KẾT CÁC DÂN TỘC – NGUỒN LỰC CỦA SỰ NGHIỆP CÁCH MẠNG VIỆT NAM

 

Hướng đến Đại hội đại biểu các dân tộc thiểu số Quận 6 lần II năm 2019

ĐẠI ĐOÀN KẾT CÁC DÂN TỘC – NGUỒN LỰC CỦA SỰ NGHIỆP CÁCH MẠNG VIỆT NAM

 

Sinh thời Hồ Chí Minh khẳng định: Dân tộc Việt Nam là một khối thống nhất của các dân tộc anh em, được hình thành trong quá trình dựng nước và giữ nước; các dân tộc thiểu số là một bộ phận hợp thành của dân tộc Việt Nam; các dân tộc thiểu số cũng như dân tộc Kinh đều bị thực dân, đế quốc áp bức, bóc lột và đều có nguyện vọng đánh đuổi thực dân, đế quốc; xây dựng đời sống ấm no, hạnh phúc.

Nước ta có 54 dân tộc anh em cùng sinh sống và bình đẳng dân tộc là quyền chính đáng của các dân tộc trong một quốc gia cũng như giữa các quốc gia dân tộc trong quan hệ quốc tế. Trong Tuyên ngôn độc lập ngày 02/9/1945 Người đã nhấn mạnh : “Các dân tộc sinh ra đều có quyền bình đẳng và có quyền được mưu cầu hạnh phúc, được hưởng độc lập tự do”. Vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta luôn kiên trì thực hiện chính sách dân tộc đoàn kết, bình đẳng, hỗ trợ giúp đỡ nhau cùng phát triển. Chính sách đúng đắn của Đảng đã khơi dậy sức mạnh đại đoàn kết vững chắc đập tan mọi âm mưu của các thế lực thù địch giành chiến thắng vẻ vang trong 02 cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc và đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong công cuộc đổi mới đi lên CNXH.

Bước vào thời kỳ đổi mới, vấn đề dân tộc thiểu số ở nước ta đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt ra và giải quyết trên một bình diện mới đoàn kết vì sự phát triển của các dân tộc thiểu số là nhiệm vụ trung tâm” phản ánh những nhu cầu cơ bản của các dân tộc thiểu số, từ chính trị đến kinh tế, từ văn hóa đến xã hội. Đảng và Nhà nước ta đã tập trung phát triển kinh tế - xã hội miền núi, vùng dân tộc thiểu số nhằm cải thiệnvề  đời sống vật chất lẫn tinh thần đồng bào dân tộc. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung phát triển năm 2011) xác định việc “ các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển” là một trong những tiêu chí không thể thiếu, thể hiện sự giải phóng con người đồng thời mang lại cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc và phát triển của các dân tộc cũng như giữ gìn những nét văn hóa đặc sắc riêng của  từng dân tộc.

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc, Đại hội XII của Đảng khẳng định: “đại đoàn kết dân tộc là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam, là động lực và nguồn lực to lớn trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Để phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, Đại hội đã đề ra phương hướng, nhiệm vụ nhằm tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức do Đảng lãnh đạo trên cơ sở hát huy mạnh mẽ mọi nguồn lực, mọi tiềm năng sáng tạo của nhân dân để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; lấy mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” làm điểm tương đồng cũng như tôn trọng những điểm khác biệt không trái với lợi ích chung của quốc gia - dân tộc và đề cao tinh thần dân tộc, truyền thống yêu nước, nhân nghĩa, khoan dung để tập hợp, đoàn kết mọi người Việt Nam ở trong và ngoài nước, tăng cường quan hệ mật thiết giữa nhân dân với Đảng, Nhà nước tạo sinh lực mới của khối đại đoàn kết dân tộc tạo thành sức mạnh tổng hợp trong cuộc đấu tranh vì độc lập của dân tộc, tự do cho nhân dân và hạnh phúc cho con người. Vì vậy, Đảng chủ trương tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách, bảo đảm các dân tộc bình đẳng, tôn trọng, đoàn kết, giải quyết hài hòa quan hệ giữa các dân tộc, giúp nhau cùng phát triển, tạo chuyển biến rõ rệt trong phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội các vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là các vùng Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ, tây duyên hải miền Trung đi đôi với nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo, chất lượng nguồn nhân lực và chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số, người tiêu biểu có uy tín trong cộng đồng các dân tộc.

Song song đó, Việt Nam hiện có 14 tôn giáo đã được Nhà nước công nhận tư cách pháp nhân và cấp phép hoạt động với khoảng 25 triệu tín đồ. Các tôn giáo chung sống đan xen, nhưng tồn tại độc lập và hòa bình với nhau, không phụ thuộc vào nhau. Tuy nhiên, các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách tác động vào tình hình tôn giáo để gây mâu thuẫn, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc. Để chống lại âm mưu trên, đồng thời để các tôn giáo đóng góp tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Đại hội XII chủ trương: tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo, phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo. Quan tâm và tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo sinh hoạt theo hiến chương, điều lệ của tổ chức tôn giáo đã được Nhà nước công nhận, theo quy định của pháp luật; chủ động phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh với các hành vi lợi dụng tôn giáo, tín ngưỡng để chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc hoặc những hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trái pháp luật.

Không chỉ có dân tộc – tôn giáo, mà đối với kiều bào Việt Nam sinh sống ở nước ngoài, Nhà nước hoàn thiện cơ chế, chính sách để hỗ trợ giúp đỡ đồng bào định cư ở nước ngoài ổn định cuộc sống, phát triển kinh tế góp phần tăng cường hợp tác, hữu nghị giữa nhân dân ta với nhân dân các nước; được bảo hộ tính mạng, tài sản và các quyền, lợi ích chính đáng; tạo điều kiện để đồng bào giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc; có cơ chế, chính sách thu hút đồng bào hướng về Tổ quốc, đóng góp xây dựng và bảo vệ đất nước.

Có thể nói, chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc nếu triển khai thực hiện có hiệu quả sẽ là động lực, là nguồn lực và là cơ sở quan trọng cho sự phát triển của dân tộc về quan điểm xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc đối với sự nghiệp cách mạng nước ta.

                                                                        Hà Ngân

 


Số lượt người xem: 8Bản in Quay lại
Xem theo ngày: